Quản lý mẫu xét nghiệm barcode bắt đầu từ một lý do rất cụ thể: ống máu bị dán nhầm nhãn là chuyện khó phát hiện nhất của khoa xét nghiệm. Hai người bệnh nằm cùng buồng, cùng được chỉ định công thức máu, điều dưỡng lấy máu liên tiếp rồi dán nhãn viết tay sau khi rời giường. Máy chạy đúng, kết quả đẹp, chỉ có điều kết quả nằm sai hồ sơ. Không báo động nào kêu, và thường chỉ đến lúc bác sĩ thấy chỉ số không khớp lâm sàng mới có người nghi ngờ.
Bài này đi theo vòng đời của một ống mẫu có mã vạch trên LIS: sinh mã, dán nhãn, nhận mẫu, từ chối mẫu lỗi, chạy máy và lưu mẫu. Mỗi chặng đều có chỗ LIS làm được và chỗ vẫn cần con người, nêu rõ để khoa dễ đối chiếu với quy trình hiện hành.
Vì sao quy trình mẫu bằng giấy và nhãn viết tay hay sai
Sai sót trước khi mẫu lên máy chiếm phần lớn lỗi của cả quy trình xét nghiệm, và đa số xảy ra ở ba điểm: nhận diện người bệnh, ghi nhãn, chuyển mẫu. Khoa xét nghiệm ở bệnh viện vừa và nhỏ thường gặp những tình huống sau:
- Nhãn viết tay khó đọc, kỹ thuật viên phải gọi hỏi lại khoa lâm sàng, mất 5-10 phút cho mỗi ống nghi ngờ.
- Phiếu chỉ định giấy tách rời ống mẫu, nên hai thứ có thể lệch nhau khi chuyển qua nhiều tay.
- Không ai biết ống mẫu đang ở đâu: chưa lấy, đang trên đường chuyển, đã nằm ở bàn nhận hay đã lên máy.
- Mẫu cũ cần chạy lại hoặc cần đối chiếu khi có khiếu nại nhưng không tìm ra, vì xếp theo thứ tự nhận chứ không theo vị trí ghi nhận.
Quản lý mẫu xét nghiệm barcode không loại bỏ hết các lỗi này. Nó cắt nguồn lỗi nhập tay và biến "mẫu đang ở đâu" thành một câu hỏi tra cứu được trong vài giây.
Mã vạch sinh ra từ đâu: chỉ định trên HIS và LIS
Mã chỉ có giá trị khi gắn với một chỉ định cụ thể. Quy trình thường chạy như sau: bác sĩ ra chỉ định xét nghiệm trên HIS, chỉ định này chuyển sang LIS, LIS sinh mã mẫu và gom các xét nghiệm dùng chung loại ống vào cùng một mã. Ví dụ công thức máu, nhóm máu và đông máu cơ bản có thể cần ba loại ống khác nhau, nghĩa là ba mã, nhưng cùng thuộc một đợt chỉ định của một người bệnh.
Nhìn lại dữ liệu LIS gắn vào mỗi mã, cần có tối thiểu:
| Nhóm dữ liệu | Nội dung cụ thể |
|---|---|
| Định danh | Mã mẫu, mã người bệnh, mã đợt khám hoặc đợt điều trị |
| Chỉ định | Danh sách xét nghiệm, bác sĩ chỉ định, khoa chỉ định, mức ưu tiên (thường quy hay cấp cứu) |
| Loại mẫu | Loại ống, chất chống đông, thể tích cần lấy, điều kiện bảo quản |
| Dấu vết | Giờ lấy, người lấy, giờ nhận, người nhận, trạng thái hiện tại |
Một nguyên tắc nên giữ: mã vạch chỉ chứa mã mẫu, không nhồi họ tên hay chẩn đoán vào mã. Thông tin còn lại do LIS tra. Cách này bảo vệ dữ liệu người bệnh khi ống mẫu rơi vào tay người không liên quan, và cho phép sửa thông tin hành chính (viết sai tên chẳng hạn) mà không phải in lại nhãn.
Muốn xem bức tranh rộng hơn về việc HIS, LIS và RIS-PACS chia việc ra sao, có thể đọc bài tích hợp liên thông HIS với LIS, RIS-PACS và BHYT.
Dán nhãn ngay tại nơi lấy mẫu
Nơi dán nhãn quyết định độ tin cậy của cả chuỗi. Quy tắc đơn giản: nhãn phải được in và dán tại chỗ, trước mặt người bệnh, trước khi điều dưỡng rời đi.
Dán nhãn tại ghế lấy máu: nhãn gắn với ống ngay khi máu vừa vào ống, không để đến lúc mang về khoa
Một quy trình tại phòng lấy máu thường có các việc sau:
- Điều dưỡng gọi người bệnh theo số thứ tự hoặc mở đợt chỉ định trên máy tính bảng, máy tính tại quầy.
- Hỏi lại họ tên và năm sinh, đối chiếu với nhãn in. Với người bệnh nội trú, đối chiếu thêm vòng đeo tay nếu bệnh viện có dùng.
- LIS in nhãn đúng loại ống, đúng số lượng ống cho đợt chỉ định.
- Lấy máu, dán nhãn ngay, quét nhãn để xác nhận "đã lấy" kèm giờ lấy và người lấy.
- Ống vào giá hoặc khay vận chuyển theo khu vực, không bỏ chung vào túi.
Bước 4 là chỗ nhiều cơ sở bỏ qua vì tưởng thừa, nhưng chính giờ lấy mẫu mới giúp khoa xét nghiệm biết mẫu đã chờ bao lâu. Với các xét nghiệm nhạy với thời gian như khí máu hay kali, giờ lấy mẫu cho phép LIS cảnh báo khi mẫu đến quá muộn.
Sai lầm thường gặp: In sẵn cả xấp nhãn cho một khoa buổi sáng rồi phát cho điều dưỡng cầm đi. Nhãn tách khỏi bước nhận diện người bệnh nên rủi ro dán nhầm còn nguyên, chỉ là chữ in đẹp hơn chữ viết tay.
Tiếp nhận mẫu tại khoa xét nghiệm bằng quét mã
Khi mẫu về khoa, kỹ thuật viên quét từng ống thay vì ký sổ giao nhận. Mỗi lần quét, LIS cập nhật trạng thái sang "đã nhận", ghi giờ nhận và người nhận. Giá ống chưa quét hiện là danh sách "đang chờ nhận", nên mẫu thất lạc dọc đường lộ ra ngay trong ca.
Bàn nhận mẫu: súng quét, giá ống và màn hình nhận mẫu đặt gần nhau để mỗi ống được xác nhận trong một thao tác
Tại bàn nhận mẫu, kỹ thuật viên kiểm tra mẫu bằng mắt rồi mới xác nhận nhận hay từ chối. Các lý do từ chối thường gặp:
- Vỡ hoặc rò rỉ ống: nguy cơ lây nhiễm và mẫu không dùng được.
- Tan huyết: ảnh hưởng nhiều chỉ số sinh hóa như kali, LDH, AST.
- Thiếu thể tích hoặc sai tỷ lệ chống đông: đặc biệt với ống đông máu.
- Sai loại ống: ví dụ lấy ống không chống đông cho xét nghiệm cần EDTA.
- Nhãn mờ, bong hoặc không khớp phiếu: không thể xác nhận danh tính mẫu.
Khi từ chối, kỹ thuật viên chọn lý do trong danh mục chuẩn của LIS. Hệ thống báo về khoa lâm sàng để lấy lại và giữ lý do để khoa thống kê. Sau một quý, tỷ lệ mẫu bị từ chối theo khoa và theo lý do thường chỉ ra việc cần sửa: khoa nào hay tan huyết do lấy máu qua kim luồn, khoa nào hay thiếu thể tích do lấy sai ống.
Với các mẫu cấp cứu, LIS gắn cờ ưu tiên ngay từ lúc sinh mã để mẫu được xử lý trước hàng chờ thường quy. Khoa có thể đặt thời gian trả kết quả mục tiêu cho từng nhóm và theo dõi mẫu nào đang vượt.
Theo dõi vận chuyển và mẫu gửi ngoài
Ở bệnh viện có nhiều khu nhà, mẫu có thể đi bằng nhân viên vận chuyển, hộp kín hoặc hệ thống chuyển mẫu khí nén. Mỗi lần giao nhận có thể quét một mã của hộp hoặc khay, rồi LIS gắn trạng thái "đang chuyển" cho toàn bộ ống bên trong. Cách này giảm số lần quét mà vẫn cho phép trả lời câu hỏi "hộp của khoa Nội đang ở đâu".
Mẫu gửi sang đơn vị khác (xét nghiệm chuyên sâu, giải trình tự, nuôi cấy đặc biệt) cần thêm danh sách gửi: ống nào, gửi đi đâu, ngày gửi, ngày dự kiến có kết quả. Kết quả về, nhập hoặc nhận lại vào LIS theo đúng mã ban đầu, nên bác sĩ chỉ thấy một dòng kết quả trong hồ sơ người bệnh thay vì tờ giấy kết quả rời.
Từ ống mẫu lên máy: để máy tự hỏi LIS
Khi máy xét nghiệm có đầu đọc mã, kỹ thuật viên chỉ đặt ống vào giá. Máy đọc mã, gửi truy vấn tới LIS, nhận danh sách xét nghiệm cần chạy rồi trả kết quả về cho đúng mẫu. Việc này loại bỏ bước gõ lại số mẫu vào máy và bước nhập kết quả sang LIS, hai chỗ sai nhiều nhất của quy trình thủ công.
Điểm cần thử trước khi chạy thật là chất lượng nhãn. Máy mỗi hãng cấu hình riêng về loại mã, số ký tự và vị trí đọc; nhãn quá nhỏ, giấy in nhiệt phai hoặc dán lệch trên ống nhỏ (ống trẻ sơ sinh, ống đông máu) sẽ khiến máy đọc lỗi liên tục. Khoa nên chạy thử khoảng vài chục ống thật qua từng máy, ghi lại tỷ lệ đọc lỗi, rồi mới quyết định cỡ nhãn và loại giấy. Chi tiết về luồng dữ liệu hai chiều giữa máy và LIS nằm trong bài kết nối hai chiều máy xét nghiệm với LIS.
Lưu ý: Mẫu mất nhãn hoặc nhãn không đọc được thì không nên dán tay lại mã mới ngay tại bàn máy. Quy trình đúng là gắn lại theo thao tác "in lại nhãn" có ghi nhận người thực hiện, nếu danh tính ống còn xác nhận được. Nếu không xác nhận được thì từ chối và lấy lại.
Lưu mẫu và truy vết vị trí
Sau khi trả kết quả, mẫu vẫn phải được giữ trong một khoảng thời gian để chạy lại, kiểm tra khi bác sĩ nghi ngờ kết quả hoặc giải quyết khiếu nại. Thời hạn lưu phụ thuộc loại mẫu và quy định nội bộ của khoa, nên không có con số chung cho mọi cơ sở.
Lưu mẫu theo ô: LIS ghi vị trí giá, ngăn, ô để lần sau tìm đúng ống trong vài giây
Cách lưu có truy vết thường làm như sau:
- Khi kết quả đã duyệt, kỹ thuật viên quét ống và quét mã vị trí của giá hoặc ô lưu.
- LIS ghi mẫu nằm ở tủ nào, ngăn nào, ô nào, kèm ngày lưu và hạn hủy.
- Khi cần chạy lại, LIS hiện đúng vị trí; kỹ thuật viên lấy ống ra, quét và ghi lý do lấy.
- Đến hạn, LIS lập danh sách mẫu cần hủy theo ngày. Kỹ thuật viên hủy theo quy trình chất thải y tế của cơ sở, quét xác nhận và ghi người thực hiện.
Hai chỗ nhiều khoa vướng. Thứ nhất, mẫu lưu lạnh hay đông sâu cần ghi cả điều kiện bảo quản, vì rã đông lặp lại làm hỏng một số chỉ số. Thứ hai, mẫu của người bệnh có xét nghiệm nhạy cảm (HIV, viêm gan) cần phân quyền xem danh sách lưu mẫu, tránh để thông tin định danh lộ ra cho người không liên quan.
Dữ liệu barcode cho báo cáo chất lượng của khoa
Khi quản lý mẫu xét nghiệm barcode được áp dụng đến từng thao tác, LIS có sẵn mốc thời gian để tính các chỉ số mà trước đây khoa phải đo tay hoặc không đo:
| Chỉ số | Tính từ đâu |
|---|---|
| Thời gian từ lấy mẫu đến nhận mẫu | Giờ quét lấy mẫu, giờ quét nhận mẫu |
| Thời gian từ nhận mẫu đến trả kết quả | Giờ nhận, giờ duyệt kết quả |
| Tỷ lệ mẫu bị từ chối theo lý do và theo khoa | Danh mục lý do từ chối |
| Mẫu chờ lâu tại một chặng | Danh sách mẫu chưa chuyển trạng thái |
| Số lần lấy mẫu lại | Mẫu mới sinh sau mẫu bị từ chối |
Những chỉ số này phục vụ họp giao ban khoa và làm căn cứ khi cải tiến quy trình, chẳng hạn rút ngắn thời gian vận chuyển từ khoa điều trị lên khoa xét nghiệm. Chúng cũng bổ sung cho dữ liệu nội kiểm và ngoại kiểm, hai mảng đã nêu trong bài kiểm soát chất lượng xét nghiệm trên LIS.
Việc LIS không làm thay khoa xét nghiệm
Barcode kiểm soát được danh tính mẫu từ lúc có nhãn, chứ không kiểm soát được điều xảy ra trước đó. Vài giới hạn cần nói rõ khi đánh giá phần mềm:
- Nhận diện người bệnh tại giường vẫn do điều dưỡng làm. Nhãn in đúng nhưng lấy máu nhầm người thì mã vẫn đúng ở mọi bước sau.
- Chất lượng lấy mẫu không tự sửa được. LIS chỉ ghi nhận tỷ lệ tan huyết cao, còn đào tạo lại kỹ thuật lấy máu là việc của khoa.
- Phần cứng quyết định độ ổn định. Máy in nhãn, giấy nhãn, súng quét và đường truyền nội bộ phải đủ cho giờ cao điểm buổi sáng.
- Quy trình vẫn cần văn bản. Tiêu chí nhận và từ chối mẫu, thời hạn lưu, cách hủy mẫu phải nằm trong quy trình chuẩn của khoa, LIS chỉ thực thi chúng.
Câu hỏi nên hỏi khi đánh giá phân hệ quản lý mẫu của một LIS
Khi xem demo, nên yêu cầu nhà cung cấp làm trực tiếp những việc sau thay vì chỉ xem slide:
- Chỉ định một người bệnh có ba loại ống, in nhãn, quét lấy mẫu và quét nhận mẫu trên thiết bị thật.
- Từ chối một mẫu với lý do tan huyết và cho thấy khoa lâm sàng nhận thông báo ở đâu.
- Mở danh sách mẫu đang chờ nhận từ một khoa tại một thời điểm.
- Tìm lại một mẫu đã lưu cách đây hai tuần bằng mã mẫu và cho biết vị trí.
- Đọc thử nhãn trên ống nhỏ qua máy xét nghiệm đang dùng của khoa.
- Xuất báo cáo tỷ lệ từ chối mẫu theo khoa trong tháng.
Khoa xét nghiệm của bạn đang ký sổ giao nhận mẫu hay theo dõi bằng nhãn viết tay? MyHospital có phân hệ cận lâm sàng kết nối LIS với máy xét nghiệm và hồ sơ người bệnh, nằm trong phần mềm quản lý bệnh viện tích hợp từ chỉ định đến kết quả. Đăng ký tư vấn để xem luồng nhận mẫu, từ chối mẫu và lưu mẫu bằng mã vạch trên dữ liệu mẫu của chính khoa bạn.