Buổi sáng ở một phòng xét nghiệm đông mẫu có một cảnh quen thuộc: kỹ thuật viên cầm phiếu chỉ định, gõ mã người bệnh vào máy sinh hóa, chọn từng xét nghiệm, bấm chạy. Mười lăm phút sau máy in phiếu kết quả, người khác ngồi gõ lại từng con số vào phần mềm. Mỗi lần gõ là một cơ hội nhầm. Kết nối hai chiều giữa máy phân tích và LIS sinh ra để cắt cả hai lần gõ đó, và bài này đi vào chi tiết nó chạy thế nào, bỏ được lỗi gì, cần chuẩn bị gì trước khi bật.
Kết nối hai chiều máy xét nghiệm LIS khác kết nối một chiều ở đâu
Kết nối một chiều chỉ làm một nửa việc. Máy chạy xong, đẩy kết quả lên hệ thống LIS, còn khâu đưa chỉ định xuống máy vẫn do người làm: đọc phiếu, gõ mã, chọn xét nghiệm. Nhiều phòng xét nghiệm dừng ở mức này vì dễ triển khai hơn, và tưởng rằng đã "kết nối máy".
Kết nối hai chiều đi tiếp nửa còn lại. Chỉ định bác sĩ ra trong hệ thống được LIS giữ, máy tự hỏi LIS khi quét mã vạch trên ống mẫu, LIS trả danh sách xét nghiệm cần chạy cho đúng ống đó.
| Tiêu chí | Một chiều (máy gửi lên LIS) | Hai chiều (máy và LIS trao đổi qua lại) |
|---|---|---|
| Đưa chỉ định vào máy | Kỹ thuật viên gõ tay | Máy tự lấy từ LIS theo mã vạch |
| Đưa kết quả vào LIS | Tự động | Tự động |
| Nguy cơ nhầm người bệnh | Còn ở bước gõ mã trên máy | Giảm mạnh, mã đi từ ống mẫu |
| Nhầm danh mục xét nghiệm | Còn | Gần như không, theo bảng đối chiếu mã |
| Yêu cầu với máy | Có chế độ xuất kết quả | Có chế độ host query hoặc nhận chỉ định |
| Thời gian triển khai | Ngắn | Dài hơn vì phải đối chiếu mã và kiểm thử |
Chữ then chốt ở đây là mã vạch. Không có mã vạch in sẵn trên ống mẫu, máy không biết hỏi LIS về ai. Chuẩn bị khâu này tốt hay dở quyết định gần hết độ ổn định của kết nối.
Dữ liệu đi hai chiều như thế nào
Một lượt chạy trọn vẹn gồm năm chặng, theo thứ tự thời gian:
- Bộ phận tiếp nhận mẫu quét ống, LIS gán mã mẫu và gắn với chỉ định đã có sẵn từ phòng khám hoặc khoa điều trị.
- Kỹ thuật viên đặt ống vào giá, máy đọc mã vạch.
- Máy gửi truy vấn tới LIS: ống mã này cần chạy gì?
- LIS trả bản tin gồm thông tin người bệnh và danh sách xét nghiệm. Máy tự xếp lịch chạy.
- Chạy xong, máy gửi kết quả về LIS theo mã mẫu, hệ thống kiểm tra khoảng tham chiếu, gắn cờ bất thường, chờ duyệt.
Đường truyền của các bản tin này theo chuẩn mà hãng máy hỗ trợ, phổ biến là ASTM qua cổng nối tiếp hoặc HL7 qua mạng. Nếu bạn đang cân nhắc chọn chuẩn, bài so sánh HL7 và ASTM đi vào đặc điểm của từng loại, còn bài về kết nối máy xét nghiệm bằng HL7 và ASTM mô tả cách cấu hình cụ thể.
Quét mã vạch trên ống mẫu là điểm khởi đầu của luồng hai chiều: máy dựa vào mã này để hỏi LIS cần chạy gì
Những lỗi nhập tay biến mất khi chạy hai chiều
Lỗi nhập tay không xảy ra vì kỹ thuật viên thiếu cẩn thận. Chúng xảy ra vì quy trình bắt người ta gõ lại thứ đã có sẵn trong hệ thống, ở giờ cao điểm, với hàng chục ống chờ. Các tình huống thường gặp ở phòng xét nghiệm:
- Gõ sai mã người bệnh: hai chữ số bị đảo chỗ, kết quả của người này gắn sang hồ sơ người kia. Khi hai người có tên gần giống nhau, lỗi còn khó phát hiện hơn.
- Chọn thiếu hoặc thừa xét nghiệm: phiếu chỉ định có lipid máu, đường huyết và chức năng thận, kỹ thuật viên chỉ chọn hai nhóm. Người bệnh phải lấy máu lại hoặc chờ thêm.
- Chép sai số liệu: dấu thập phân mất, đơn vị mmol/L chép thành mg/dL, kết quả bình thường hóa thành bất thường hoặc ngược lại.
- Kết quả trễ: phiếu in chất thành chồng, người nhập chỉ xử lý được sau khi xong việc khác, bác sĩ lâm sàng gọi xuống hỏi.
- Mất dấu vết: gõ tay không để lại nhật ký. Khi người bệnh khiếu nại, không ai chứng minh được con số trên phiếu đến từ lần chạy máy nào.
Kết nối hai chiều máy xét nghiệm LIS xử lý được nhóm lỗi đến từ việc gõ lại. Nó không xử lý được lỗi trước phân tích như lấy sai ống hay mẫu đông, nên đừng kỳ vọng nó là lá chắn cho toàn bộ quy trình.
Kết quả từ máy về thẳng LIS theo mã mẫu, kỹ thuật viên chỉ còn việc xem cảnh báo và duyệt
Chuẩn bị gì trước khi bật kết nối
Thời gian dài nhất của dự án không nằm ở cắm dây hay cấu hình IP. Nó nằm ở khâu chuẩn bị dữ liệu và quy trình.
Bảng đối chiếu mã xét nghiệm. Máy có mã riêng cho từng chỉ số, ví dụ GLU, CREA, ALT. LIS có danh mục dịch vụ của bệnh viện với mã và tên khác. Hai bên phải được ghép với nhau từng dòng. Nếu một chỉ số bị ghép nhầm, kết nối vẫn chạy bình thường nhưng đẩy số liệu vào sai ô, nên bước này phải có người chuyên môn của khoa xét nghiệm ký xác nhận chứ không chỉ kỹ sư IT làm.
Mã vạch ống mẫu. Nhãn in phải đủ tương phản, dán thẳng, đúng vị trí máy đọc được. Nhiều phòng xét nghiệm gặp tình trạng máy đọc mã hỏng tới vài phần trăm ống chỉ vì nhãn dán lệch hoặc ống bị cong. Cần chốt kích thước nhãn và cách dán trước khi chạy thật.
Thông số giao tiếp từ hãng máy. Cổng kết nối, tốc độ truyền, định dạng bản tin, chế độ hỏi chỉ định. Một số hãng yêu cầu bật license hoặc tùy chọn riêng. Xin tài liệu này sớm, vì chờ hãng trả lời là khâu hay kéo dài nhất.
Quy trình dự phòng. Phòng xét nghiệm cần một trang giấy ghi rõ: khi mất kết nối, ai quyết định chuyển sang nhập tay, mẫu nào chạy thủ công, ai đối soát sau khi hệ thống trở lại. Không có trang này, lúc sự cố mỗi ca trực làm một kiểu.
Sai lầm thường gặp: Bật kết nối hai chiều cho tất cả máy cùng một ngày. Nên đi từng máy, bắt đầu từ máy ít mẫu hoặc ít loại xét nghiệm, chạy song song với nhập tay vài ngày, so kết quả hai bên rồi mới mở sang máy tiếp theo.
Kiểm thử trước khi chạy thật
Kiểm thử là phần nhiều dự án làm vội nhất, trong khi nó quyết định kết nối đáng tin hay không. Một đợt kiểm thử tối thiểu nên có:
- Mẫu chuẩn và mẫu kiểm chứng: chạy cùng một mẫu qua đường nhập tay và đường kết nối, so từng chỉ số.
- Ca biên: chỉ định có một xét nghiệm, chỉ định có hơn mười, mẫu không có chỉ định trong LIS, mã vạch không đọc được.
- Kết quả đặc biệt: giá trị dưới ngưỡng phát hiện, kết quả định tính (dương tính, âm tính), kết quả có cờ cảnh báo của máy.
- Ngắt kết nối giữa chừng: rút dây hoặc tắt dịch vụ rồi bật lại, xem hàng đợi bản tin có gửi bù đủ và không gửi trùng không.
- Chạy lặp (chạy lại mẫu): máy chạy lại một xét nghiệm thì LIS ghi đè, ghi thêm hay giữ cả hai? Cần thống nhất trước với trưởng khoa.
Nhật ký bản tin cũng là một lợi ích đi kèm. Khi có tranh cãi về một kết quả, kỹ sư mở nhật ký ra là thấy máy gửi gì, lúc nào, LIS nhận ra sao. Với nhập tay, câu hỏi này không có lời đáp.
Kiểm thử và duyệt bảng đối chiếu mã cần có người chuyên môn của khoa xét nghiệm tham gia, không để riêng cho bộ phận IT
Kết quả vào LIS rồi đi tiếp đâu
Loại bỏ nhập tay chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi kết quả đi tiếp mà không phải chép lại ở khâu sau. Trong một hệ thống liền mạch, kết quả đã duyệt sẽ hiện ngay trong hồ sơ người bệnh để bác sĩ lâm sàng xem, được đưa vào bệnh án điện tử và gắn với dịch vụ để thu ngân viện phí tính đúng. Luồng đối soát giữa kết quả xét nghiệm và viện phí được trình bày ở bài về truyền kết quả xét nghiệm bằng HL7 và đối chiếu viện phí.
Với bệnh viện mới làm quen, thứ tự hợp lý là: nối máy xét nghiệm hay dùng nhất trước, kiểm tra luồng đến hồ sơ người bệnh, rồi mới mở dần sang máy khác. Phân hệ cận lâm sàng của MyHospital làm việc theo đúng thứ tự đó.
Phòng xét nghiệm của bạn còn đang gõ tay chỉ định vào máy hoặc chép kết quả từ phiếu in? Đội kỹ thuật MyHospital khảo sát từng model máy, lập bảng đối chiếu mã và chạy thử song song trên phần mềm quản lý bệnh viện, để dữ liệu đi hai chiều mà khoa xét nghiệm không phải thay đổi cách làm việc.
Việc làm ngay tuần này nếu muốn chuyển sang hai chiều
Liệt kê toàn bộ máy trong phòng xét nghiệm kèm hãng, model, năm đưa vào sử dụng và hiện đang nối kiểu gì (không nối, một chiều, hai chiều). Gạch dưới những máy có công suất mẫu lớn nhất, vì đó là nơi nhập tay gây thiệt hại nhiều nhất. Sau đó gửi danh sách này cho đơn vị cung cấp LIS để họ xác nhận máy nào hỗ trợ chế độ hai chiều và cần tài liệu gì từ hãng.