Sáng thứ Ba, một người bệnh sau mổ nằm giường 18. Mạch lúc 2 giờ là 88, lúc 6 giờ là 104, lúc 10 giờ là 116. Ba lần đo do ba người khác nhau ghi, ở ba tờ phiếu khác nhau kẹp trong hồ sơ. Từng con số một chưa vượt ngưỡng nào đáng gọi bác sĩ. Nhưng đặt cạnh nhau, chúng vẽ ra một đường dốc lên mà không ai nhìn thấy kịp.
Đó là lý do nhiều khoa chuyển sang theo dõi dấu hiệu sinh tồn điện tử. Giá trị không nằm ở việc bỏ giấy. Nó nằm ở chỗ mọi lần đo về cùng một bảng, tự vẽ thành biểu đồ, và chênh lệch bất thường được đẩy ra trước mắt điều dưỡng. Bài này đi qua cách lập bảng, cấu hình ngưỡng, luồng nhập liệu và những lỗi khoa hay vấp khi triển khai.
Bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn gồm những chỉ số nào
Một bảng dùng được ở khoa nội trú thường có mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở và SpO2. Một số khoa bổ sung cân nặng, điểm đau, nước tiểu, mức ý thức. Đừng cố nhồi mọi chỉ số vào bảng đầu tiên: khoa hồi sức cần nhiều, khoa nội tổng hợp thường chỉ cần bốn đến năm.
Cách chia thực tế:
- Nhóm bắt buộc mọi giường: mạch, nhiệt độ, huyết áp tâm thu và tâm trương, nhịp thở, SpO2.
- Nhóm theo chuyên khoa: điểm đau sau mổ, dịch vào ra, chu vi vòng bụng ở sản khoa, mức ý thức ở thần kinh.
- Nhóm ghi chú kèm theo: tư thế đo, cánh tay đo, vị trí đo nhiệt, người bệnh đang thở oxy hay không. Nhóm này ít người để ý, nhưng thiếu nó thì hai con số giống nhau có thể mang hai nghĩa khác nhau.
Mỗi lượt đo lưu tối thiểu: giá trị, thời điểm đo thực tế, người đo. Chữ "thực tế" quan trọng: điều dưỡng đo lúc 6 giờ nhưng nhập lúc 7 giờ 20 thì hệ thống phải cho chọn giờ đo, không tự lấy giờ bấm lưu.
Nhập chỉ số ngay sau khi đo giúp bảng luôn phản ánh đúng tình trạng hiện tại của người bệnh.
Lập bảng tự động từ y lệnh: tần suất đo và lịch nhắc
Bảng thủ công thường bắt đầu bằng việc điều dưỡng tự kẻ cột theo giờ. Bảng tự động đi ngược lại: bác sĩ ghi y lệnh theo dõi, hệ thống sinh lịch đo.
- Bác sĩ chỉ định tần suất theo dõi trong y lệnh, ví dụ mỗi 4 giờ, hoặc mỗi giờ trong 6 giờ đầu sau mổ.
- Hệ thống sinh các mốc đo trong ngày và hiển thị trên danh sách việc của điều dưỡng phụ trách buồng.
- Điều dưỡng đo, nhập giá trị vào đúng mốc. Mốc nào quá giờ mà chưa có số liệu thì đổi màu trên danh sách.
- Khi bác sĩ đổi y lệnh, lịch tự cập nhật, không phải xóa và kẻ lại.
Lợi ích lớn nhất hiếm khi được nhắc: lượt đo bị quên trở nên nhìn thấy được. Trên phiếu giấy, một ô trống lẫn vào hàng chục ô khác. Trên bảng điện tử, ô trống quá hạn là một dòng đỏ, và điều dưỡng trưởng lọc được toàn khoa còn bao nhiêu lượt đo trễ.
Ngưỡng cảnh báo: đặt thế nào để không thành báo động giả
Ngưỡng cảnh báo là phần dễ làm hỏng cả hệ thống. Đặt quá chặt, điều dưỡng gặp cả chục cảnh báo mỗi ca và học cách phớt lờ. Đặt quá lỏng, hệ thống thành cuốn sổ đẹp.
Vài nguyên tắc từ vận hành thực tế:
- Ngưỡng do chuyên môn duyệt. Trưởng khoa cùng điều dưỡng trưởng chốt, có thể theo hội đồng chuyên môn của bệnh viện. Phần mềm thực thi, không tự đặt.
- Tách theo nhóm người bệnh. Nhịp thở, mạch, huyết áp của người lớn, trẻ em và sản phụ không dùng chung một bộ ngưỡng.
- Có mức nhẹ và mức khẩn. Một giá trị chạm mức nhẹ chỉ tô màu để điều dưỡng lưu ý. Chỉ mức khẩn mới cần gọi bác sĩ.
- Xem xét cả tổ hợp. Nếu khoa đã dùng thang điểm cảnh báo sớm như NEWS2, hệ thống có thể cộng điểm từ nhiều chỉ số thay vì báo từng chỉ số riêng lẻ. Việc có áp dụng thang điểm hay không là quyết định chuyên môn của từng bệnh viện.
Sai lầm thường gặp: Cài ngưỡng theo một bảng có sẵn rồi áp cho mọi khoa. Sau hai tuần, khoa nhi báo động liên tục vì nhịp tim trẻ nhỏ vốn cao hơn người lớn, và điều dưỡng bắt đầu tắt âm cảnh báo.
Máy tính bảng tại giường rút ngắn khoảng cách giữa lúc đo và lúc ghi.
Nhập liệu tại giường: nhập tay hay nối thiết bị
Có hai đường đi, và khoa nên chọn theo điều kiện thiết bị chứ không theo trào lưu.
| Tiêu chí | Nhập tay tại giường | Nối thiết bị đo |
|---|---|---|
| Chi phí ban đầu | Thấp, cần máy tính bảng hoặc máy tính đẩy | Cao, cần thiết bị có cổng kết nối và cấu hình |
| Nguy cơ gõ nhầm | Có, cần chặn ngưỡng bất thường | Thấp với chỉ số máy đo được |
| Phù hợp với | Khoa nội, ngoại, sản thông thường | Hồi sức, sau mổ nặng, khoa có monitor |
| Việc điều dưỡng vẫn phải làm | Đo và nhập | Kiểm tra, xác nhận trước khi lưu |
Với theo dõi dấu hiệu sinh tồn điện tử, nhiều khoa chạy cách hỗn hợp: monitor đẩy mạch, SpO2, huyết áp, còn nhiệt độ, nhịp thở, điểm đau vẫn nhập tay. Dù cách nào, nên giữ bước điều dưỡng xác nhận dữ liệu trước khi vào hồ sơ. Số liệu từ máy đôi khi lệch vì người bệnh cử động hoặc kẹp lỏng, và một chỉ số nhiễu lưu thẳng vào hồ sơ là chỉ số khó gỡ về sau.
Điều cần kiểm tra trước khi bỏ giấy: người bệnh cấp cứu hoặc chuyển khoa giữa chừng có được giữ đủ dữ liệu không, và khi mất mạng thì điều dưỡng ghi tạm ở đâu.
Biểu đồ xu hướng: thứ bác sĩ thực sự dùng khi đi buồng
Bảng số liệu điều dưỡng cần cho việc ghi chép. Bác sĩ đi buồng lại cần biểu đồ. Một đường mạch dốc lên trong 12 giờ cho biết nhiều hơn năm con số đọc lần lượt.
Biểu đồ dùng được có vài đặc điểm:
- Mạch, nhiệt độ, huyết áp trên cùng trục thời gian, để thấy chúng lệch cùng nhau hay riêng lẻ.
- Mốc y lệnh và thuốc đánh dấu trên trục: hạ sốt lúc nào, truyền dịch lúc nào, đổi thuốc lúc nào.
- Vùng ngưỡng tô nền, giá trị vượt ngưỡng hiện màu khác.
- Xem được theo ngày, theo đợt điều trị, và in ra khi hội chẩn.
Trong giờ giao ban, trưởng khoa mở danh sách toàn khoa lọc theo người bệnh có lượt đo quá ngưỡng, thay vì lật từng hồ sơ. Đây là thay đổi cách làm việc, không chỉ thay đổi công cụ.
Giao ban khoa dựa trên danh sách người bệnh có chỉ số bất thường thay vì lật từng phiếu.
Nối dữ liệu sinh tồn với phiếu chăm sóc và bàn giao ca
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn điện tử chỉ phát huy hết khi không đứng riêng một mình. Chỉ số đo được cần xuất hiện trong phiếu chăm sóc điều dưỡng điện tử mà không phải gõ lại, và cần theo người bệnh sang phần bàn giao. Ở khoa đã dùng sổ bàn giao trực điện tử, ca sau mở ra là thấy chỉ số gần nhất cùng xu hướng 24 giờ, thay vì nghe kể lại. Phần này liên quan trực tiếp tới checklist bàn giao ca trực điều dưỡng, nơi chỉ số sinh tồn là một mục không được bỏ.
Tổng thể chăm sóc và tương tác với người bệnh sau đợt nằm viện nằm ở phân hệ chăm sóc người bệnh của MyHospital. Còn phần nội trú nói chung, bạn có thể đọc thêm ở bài về quản lý nội trú và số hóa công việc điều dưỡng.
Triển khai theo từng khoa: ba tuần đầu nên làm gì
Đừng mở toàn viện một lượt. Chọn một khoa có điều dưỡng trưởng chủ động, thường là khoa nội hoặc ngoại 30 giường.
- Tuần 1: cấu hình chỉ số và ngưỡng với trưởng khoa, chốt nhóm người bệnh, chuẩn bị thiết bị nhập liệu tại buồng.
- Tuần 2: chạy song song bảng điện tử và phiếu giấy, mỗi ngày đối chiếu vài giường để tìm ô thiếu.
- Tuần 3: bỏ phiếu giấy ở các giường ổn định, giữ mẫu in sẵn làm phương án dự phòng khi mất điện hoặc mất mạng.
Ba chỉ số nên đo trước và sau: thời gian điều dưỡng dành cho ghi chép mỗi ca, số lượt đo quá hạn mỗi ngày, số lần bác sĩ phải hỏi lại chỉ số gần nhất.
Lưu ý: Dùng chung một tài khoản đăng nhập cho cả ca trực sẽ làm mất chỗ dựa lớn nhất của bảng điện tử là truy vết người đo. Mỗi điều dưỡng một tài khoản, kể cả khi điều này làm hơi chậm ở tuần đầu.
Khoa nội trú của bạn đang ghi dấu hiệu sinh tồn trên phiếu giấy? Đặt lịch xem thử luồng lập bảng, ngưỡng cảnh báo và biểu đồ xu hướng của MyHospital trên dữ liệu mẫu, rồi tính số máy tính bảng khoa cần. Xem thêm về phần mềm quản lý bệnh viện tích hợp đầy đủ phân hệ nội trú.
Ba câu hỏi cần trả lời trước khi bỏ phiếu giấy
Trước khi chốt ngày dừng phiếu giấy, trưởng khoa nên trả lời được ba việc. Khoa có đủ điểm nhập liệu để điều dưỡng không phải ghi nháp không. Ngưỡng cảnh báo đã được chuyên môn duyệt và thử với dữ liệu thật của khoa chưa. Và quy trình khi hệ thống ngừng hoạt động được viết ra và diễn tập chưa. Ba việc này chốt xong thì việc còn lại là thói quen của từng điều dưỡng.