MyHospital
Kế toán viện phí kiểm tra hóa đơn điện tử trên máy tính tại phòng tài chính bệnh viện
Chuyển đổi số

Blockchain Hóa Đơn Điện Tử Y Tế: Chống Giả Mạo Biên Lai

10/9/2026

Blockchain hóa đơn điện tử y tế đang được nhắc tới sau một loạt vụ việc như thế này: phòng tài chính một bệnh viện tư nhân đối chiếu hồ sơ bảo hiểm nhân thọ của một người bệnh và phát hiện hai bản PDF hóa đơn viện phí giống hệt nội dung khám, chỉ khác số tiền ở dòng tổng cộng. Bản gửi công ty bảo hiểm cao hơn bản lưu trên hệ thống khoảng 30%. Không ai chỉnh sửa trên HIS - file PDF xuất ra bị mở bằng phần mềm chỉnh sửa văn bản rồi thay số trước khi nộp hồ sơ bồi thường. Đây không phải tình huống hiếm. Khi hóa đơn điện tử tồn tại dưới dạng file có thể mở và sửa lại, lớp bảo vệ thực sự nằm ở cơ chế xác thực đứng sau tờ giấy, không phải bản thân tờ giấy.

Biên lai photocopy, hóa đơn PDF chỉnh sửa: lỗ hổng thật tại quầy thu ngân

Rủi ro giả mạo chứng từ y tế xuất hiện ở hai lớp khác nhau, và không phải bệnh viện nào cũng phân biệt rõ.

Lớp thứ nhất là biên lai giấy. Theo mốc chuyển đổi hiện hành, biên lai giấy phát hành theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP vẫn được dùng đến hết 31/12/2026, chủ yếu ở các khoản thu qua kênh chưa số hóa hoàn toàn. Biên lai giấy tẩy xóa số tiền, photocopy rồi đóng dấu giả là chiêu quen thuộc trong hồ sơ trục lợi bảo hiểm - kiểm toán viên bảo hiểm nhân thọ vẫn phải soi dấu mộc dưới đèn UV vì lý do đó.

Nhân viên phòng tài chính kế toán kiểm tra chồng biên lai giấy thu viện phí Biên lai giấy vẫn còn hiệu lực sử dụng đến hết 31/12/2026, song song với hóa đơn điện tử

Lớp thứ hai, ít người để ý hơn, là hóa đơn điện tử dạng file. Hóa đơn điện tử hợp lệ có mã do cơ quan thuế cấp và được ký số, nhưng bản thể hiện dưới dạng PDF gửi cho người bệnh vẫn là một file tĩnh. Nếu người nhận chỉ đối chiếu bằng mắt - so nội dung, so con dấu điện tử hiển thị - mà không tra cứu lại mã hóa đơn trên hệ thống của cơ quan thuế, thì việc chỉnh sửa số liệu trên bản sao rồi trình nộp vẫn có thể lọt qua, đặc biệt ở phía tiếp nhận hồ sơ (công ty bảo hiểm, đơn vị chi trả) vốn xử lý khối lượng hồ sơ lớn và ít khi tra cứu từng mã.

Sai lầm thường gặp: Nhiều cơ sở coi hóa đơn điện tử đã có mã cơ quan thuế là "không thể giả" nên bỏ qua bước hướng dẫn người nhận tra cứu lại mã trên cổng tra cứu hóa đơn. Mã tồn tại để chống giả, nhưng chỉ phát huy tác dụng khi có người tra cứu.

Kế toán viện phí đối chiếu hai bản hóa đơn giấy nghi ngờ bị chỉnh sửa số tiền Đối chiếu lại mã cơ quan thuế cấp là bước xác minh nhanh nhất khi nghi ngờ một bản hóa đơn đã bị chỉnh sửa

Hóa đơn điện tử hiện hành chống giả bằng cách nào

Trước khi bàn tới blockchain, cần nhìn đúng cơ chế đang vận hành. Nghị định 254/2026/NĐ-CP (hiệu lực từ 01/7/2026, hướng dẫn Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15) cùng Thông tư 91/2026/TT-BTC là khung pháp lý hiện hành về hóa đơn, chứng từ điện tử, thay cho Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP đã hết hiệu lực.

Cơ chế chống giả cốt lõi là mô hình tập trung một đầu mối: mỗi hóa đơn điện tử hợp lệ được cơ quan thuế cấp một mã riêng trước khi gửi cho người mua. Muốn xác minh một hóa đơn có thật hay không, bên nhận tra cứu mã đó trên hệ thống của cơ quan thuế - nếu mã khớp và nội dung hiển thị đúng, hóa đơn là thật; nếu không tra được mã hoặc nội dung lệch, hóa đơn có vấn đề.

Với nghiệp vụ viện phí, quy trình có thêm hai đặc thù:

  • Hóa đơn tổng hợp cuối ngày: cơ sở khám chữa bệnh có phần mềm quản lý viện phí, mỗi giao dịch đã có phiếu thu lưu trên hệ thống, người bệnh không yêu cầu hóa đơn riêng thì cuối ngày lập một hóa đơn điện tử tổng hợp cho toàn bộ giao dịch trong ngày. Người bệnh yêu cầu hóa đơn riêng thì lập ngay tại thời điểm thu.
  • Hóa đơn với cơ quan BHXH: không lập theo từng lượt khám mà lập tại thời điểm cơ quan BHXH thanh, quyết toán chi phí khám chữa bệnh BHYT.

Mô hình một đầu mối này vận hành ổn với giao dịch nội bộ ngành thuế - bệnh viện. Điểm nghẽn xuất hiện khi hóa đơn cần chứng minh với một bên thứ ba không có quyền truy cập trực tiếp vào cổng tra cứu, và bên đó lại xử lý khối lượng hồ sơ lớn đến mức không tra cứu thủ công từng mã. Đây đúng là khoảng trống mà công nghệ chuỗi khối được nhắc tới như một hướng bổ sung, không phải thay thế.

Blockchain là gì trong ngữ cảnh hóa đơn - chứng từ

Nói ngắn gọn, không sa vào thuật ngữ kỹ thuật: blockchain là một sổ cái được nhiều bên cùng lưu bản sao, thay vì một bên duy nhất giữ bản gốc. Mỗi bản ghi mới được "băm" thành một chuỗi ký tự gắn với bản ghi liền trước, tạo thành một chuỗi khối nối tiếp. Muốn sửa một bản ghi cũ, người sửa phải tính lại toàn bộ chuỗi hash phía sau nó trên tất cả các bản sao đang tồn tại - về mặt thực tế là bất khả thi nếu chuỗi được nhiều bên độc lập lưu giữ.

Mô hình blockchain hóa đơn điện tử y tế mà một vài nơi đang thử nghiệm hình dung như sau: thay vì chỉ một bên (cơ quan thuế) giữ bản ghi gốc để đối chiếu, giá trị băm của từng hóa đơn được ghi thêm vào một chuỗi khối mà bệnh viện, công ty bảo hiểm, và có thể cả cơ quan BHXH cùng có quyền đọc. Ai cũng có thể tự kiểm tra một bản PDF trong tay có khớp với giá trị hash đã ghi chuỗi hay không, mà không cần gọi điện xác minh qua bệnh viện.

Cần nói rõ ranh giới ở đây: đây là mô tả nguyên lý công nghệ, không phải mô tả một hệ thống đã triển khai đại trà tại Việt Nam. Vài công ty bảo hiểm và bệnh viện tư nhân tại một số thị trường đã thử nghiệm mô hình này ở quy mô nhỏ, chủ yếu để rút ngắn thời gian xác minh hồ sơ bồi thường, nhưng chưa phải chuẩn phổ biến trong ngành y tế.

Cơ chế bổ sung so với mã xác thực tập trung: khác nhau ở đâu

Tiêu chíMã cơ quan thuế cấp (hiện hành)Blockchain (mô hình bổ sung)
Ai giữ bản ghi gốcMột đầu mối - hệ thống cơ quan thuếNhiều bên cùng giữ bản sao đồng bộ
Cách xác minhTra cứu mã trên cổng của cơ quan thuếĐối chiếu hash cục bộ, không cần gọi ra ngoài
Điểm mạnhĐã vận hành ổn định, có hiệu lực pháp lý rõNhiều bên độc lập kiểm tra chéo được, khó sửa hồi tố
Điểm yếuBên thứ ba (vd bảo hiểm) ít khi tra cứu thủ công từng mãCần hạ tầng, chi phí vận hành, và các bên cùng tham gia mạng lưới
Cơ sở pháp lý tại Việt NamNghị định 254/2026/NĐ-CP, Thông tư 91/2026/TT-BTCChưa có quy định riêng cho hóa đơn y tế

Điểm khác biệt cốt lõi không nằm ở "cái nào an toàn hơn", mà ở việc ai cần xác minh và họ có sẵn kênh tra cứu hay không. Nội bộ ngành thuế - bệnh viện, mã tập trung đã đủ. Giữa bệnh viện và một công ty bảo hiểm xử lý hàng nghìn hồ sơ mỗi tháng, một cơ chế đối chiếu tự động không phụ thuộc thao tác tra cứu thủ công mới thật sự giải quyết vấn đề.

Vì sao đây chưa phải yêu cầu pháp lý, chỉ là hướng thử nghiệm

Cần nhấn mạnh để tránh hiểu lầm: không có quy định nào tại Việt Nam bắt buộc hoặc thậm chí khuyến khích cụ thể việc dùng blockchain cho hóa đơn điện tử y tế. Khung pháp lý hiện hành - Nghị định 254/2026/NĐ-CP, Thông tư 91/2026/TT-BTC - chỉ quy định về mã cơ quan thuế cấp, định dạng hóa đơn điện tử và quy trình lập, hủy, điều chỉnh.

Chữ ký số gắn trên hóa đơn viện phí cũng vận hành theo hai nghị định song song, không liên quan tới blockchain: cơ sở khám chữa bệnh tư nhân dùng chữ ký số công cộng theo Nghị định 23/2025/NĐ-CP, còn cơ sở công lập dùng chữ ký số chuyên dùng công vụ do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp theo Nghị định 68/2024/NĐ-CP. Hai nghị định này không thay thế lẫn nhau và đều đang có hiệu lực.

Nói cách khác, một bệnh viện muốn thí điểm ghi hash hóa đơn lên một chuỗi khối nội bộ hoàn toàn có thể làm, như một lớp xác minh bổ sung tự nguyện song song với quy trình pháp lý bắt buộc. Nhưng lớp bổ sung đó không thay thế nghĩa vụ xin mã cơ quan thuế, không thay thế chữ ký số hợp lệ, và không có giá trị pháp lý độc lập nếu chưa được văn bản nào công nhận.

Trước khi cân nhắc lớp xác thực nâng cao như blockchain, nền tảng dữ liệu thu ngân phải sạch và đầy đủ nhật ký giao dịch. Tìm hiểu phân hệ Tài chính - Nhà thuốc của phần mềm quản lý bệnh viện MyHospital để xem cách hệ thống ghi vết từng lần lập, hủy, điều chỉnh hóa đơn điện tử viện phí.

Ba rào cản vận hành khi đưa blockchain vào bệnh viện

Ngay cả khi công nghệ đã sẵn sàng về mặt kỹ thuật, ba rào cản sau khiến việc áp dụng đại trà chưa khả thi trong ngắn hạn:

  • Cần nhiều bên cùng tham gia mạng lưới: blockchain chỉ có giá trị khi bệnh viện, công ty bảo hiểm và có thể cả cơ quan quản lý cùng vận hành hoặc cùng đọc một chuỗi khối chung. Một bệnh viện tự ghi hash lên hệ thống riêng của mình, không ai khác đối chiếu, thì bản chất vẫn là một đầu mối tập trung mang tên gọi khác.
  • Chi phí hạ tầng và vận hành không nhỏ: duy trì node, đồng bộ dữ liệu theo thời gian thực với hệ thống thu ngân, xử lý sự cố mạng - đây là khoản đầu tư cần tính toán lợi ích cụ thể, không nên làm theo phong trào.
  • Dữ liệu đầu vào phải sạch trước khi ghi chuỗi: blockchain đảm bảo một bản ghi không bị sửa sau khi đã ghi vào chuỗi, nhưng không đảm bảo bản ghi đó đúng ngay từ đầu. Nếu thu ngân nhập sai số tiền rồi mới ghi hash, chuỗi khối sẽ "khóa cứng" luôn cả cái sai đó.

Với phần lớn bệnh viện, phòng khám quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam hiện nay, ưu tiên thực tế hơn là làm chủ nhật ký giao dịch trên HIS - ai lập, ai hủy, ai điều chỉnh hóa đơn nào, vào lúc nào - trước khi tính tới lớp công nghệ phân tán phức tạp hơn.

Nhân viên thu ngân bệnh viện thao tác trên phần mềm quản lý viện phí tại quầy tiếp đón Nhật ký giao dịch đầy đủ trên HIS là nền tảng bắt buộc trước khi tính tới bất kỳ lớp xác thực bổ sung nào

Trước khi tính chuyện blockchain: dọn sạch dữ liệu thu ngân trên HIS

Đối chiếu lại toàn bộ phần trên: rủi ro giả mạo chứng từ y tế là có thật, tập trung ở hai điểm - biên lai giấy còn lưu hành đến hết 31/12/2026 và bản PDF hóa đơn điện tử bị chỉnh sửa sau khi xuất ra. Blockchain là một hướng công nghệ đáng theo dõi để bổ sung lớp xác thực phân tán, nhưng tại thời điểm hiện tại chưa có cơ sở pháp lý riêng, chưa có mạng lưới đủ lớn giữa bệnh viện - bảo hiểm - cơ quan quản lý để phát huy giá trị thật sự.

Việc nên làm ngay không phải chờ blockchain trưởng thành, mà là siết lại ba điểm cơ bản: mọi hóa đơn lập ra đều qua đúng quy trình cấp mã cơ quan thuế, mọi lần hủy hoặc điều chỉnh đều lưu vết ai thao tác và lý do gì, và người nhận hóa đơn (đặc biệt hồ sơ gửi bảo hiểm) được hướng dẫn tra cứu lại mã thay vì chỉ nhìn bằng mắt. Ba việc này giải quyết phần lớn rủi ro làm giả hiện tại, không cần đợi thêm một lớp hạ tầng mới.

Muốn hiểu đầy đủ khung pháp lý và cách hóa đơn điện tử tích hợp vào HIS, xem thêm bài khung pháp lý hóa đơn điện tử y tế. Với nghiệp vụ xử lý sai sót cụ thể, bài hủy điều chỉnh hóa đơn điện tử viện phí trình bày cây quyết định cho từng tình huống. Bức tranh tổng thể về thu phí và giám định BHYT nằm trong cẩm nang quản lý viện phí và giám định BHYT.

Câu hỏi thường gặp

Blockchain đã được pháp luật Việt Nam quy định cho hóa đơn điện tử y tế chưa?
Chưa. Nghị định 254/2026/NĐ-CP và Thông tư 91/2026/TT-BTC - văn bản hiện hành về hóa đơn, chứng từ điện tử - không đề cập blockchain. Cơ chế xác thực chính thức vẫn là mã do cơ quan thuế cấp cho từng hóa đơn, đối chiếu qua cổng tra cứu tập trung.
Vì sao biên lai viện phí giấy vẫn còn nguy cơ bị làm giả?
Nghị định 123/2020/NĐ-CP cho phép dùng biên lai giấy đến hết 31/12/2026 với một số trường hợp thu phí, đặc biệt qua cơ quan BHXH. Biên lai giấy dễ photocopy, tẩy xóa số tiền hơn hóa đơn điện tử có mã xác thực điện tử.
Hóa đơn tổng hợp cuối ngày tại bệnh viện có phải xin thêm mã cơ quan thuế không?
Có. Với người bệnh không yêu cầu hóa đơn riêng, cơ sở khám chữa bệnh có phần mềm quản lý viện phí lập một hóa đơn điện tử tổng hợp cuối ngày cho các phiếu thu trong ngày, vẫn qua quy trình cấp mã như hóa đơn đơn lẻ.
Blockchain khác gì với mã cơ quan thuế cấp cho hóa đơn hiện nay?
Mã cơ quan thuế cấp là mô hình tập trung - một đầu mối duy nhất (cơ quan thuế) giữ bản ghi gốc để đối chiếu. Blockchain là mô hình phân tán: nhiều bên cùng giữ bản sao chuỗi khối, một bản ghi bị sửa sau khi ghi vào chuỗi sẽ lệch hash với các bản sao còn lại nên dễ bị phát hiện hơn.
Bệnh viện nhỏ có cần đầu tư blockchain ngay không?
Chưa cấp thiết. Ưu tiên trước mắt là dữ liệu thu ngân sạch, nhật ký giao dịch đầy đủ trên HIS và tuân thủ đúng quy trình lập, hủy, điều chỉnh hóa đơn điện tử hiện hành. Blockchain chỉ phát huy giá trị khi có nhiều bên độc lập cùng cần đối chiếu (bảo hiểm, kiểm toán, cơ quan quản lý).