Giữa tháng, phòng kế hoạch tổng hợp gửi bảng xếp hạng: bác sĩ A khám 1.240 lượt, bác sĩ B chỉ 610. Một người vui, một người bực. Bác sĩ B là chuyên khoa tim mạch, mỗi buổi khám nhiều người bệnh suy tim và đái tháo đường kèm theo, ca nào cũng cần đọc lại kết quả cũ, chỉnh thuốc, giải thích. Bác sĩ A khám bệnh hô hấp thông thường. Bảng xếp hạng không sai về số học. Nó sai ở chỗ so hai thứ không cùng loại.
Báo cáo hiệu suất bác sĩ chỉ có giá trị khi người bị đo thấy nó công bằng. Nếu không, số liệu thành nguồn tranh cãi chứ không phải công cụ quản trị. Bài này trình bày cách chọn chỉ số, điều chỉnh theo độ phức tạp ca bệnh, thiết kế quy trình công khai và những bẫy khiến báo cáo phản tác dụng.
Hiệu suất của bác sĩ gồm những gì
Một bác sĩ làm việc ở ba mặt cùng lúc: khám và điều trị, ghi chép hồ sơ, phối hợp với khoa khác. Báo cáo chỉ đếm mặt đầu tiên sẽ khuyến khích bỏ hai mặt còn lại.
Nên chia chỉ số thành ba nhóm và luôn đọc cùng nhau.
| Nhóm | Chỉ số ví dụ | Dùng để làm gì |
|---|---|---|
| Khối lượng | Số lượt khám, số ca phẫu thuật thủ thuật, số ngày điều trị phụ trách | Biết tải công việc, phân bổ lại lịch |
| Chất lượng | Tỷ lệ tái khám trong 7 ngày, tỷ lệ hồ sơ bệnh án đạt, tỷ lệ chỉ định bị xuất toán | Phát hiện lỗi quy trình, nhu cầu đào tạo |
| Sử dụng nguồn lực | Chi phí bình quân một lượt, số ngày nằm viện so với nhóm bệnh tương đương | Rà soát chỉ định, không phải để cắt giảm máy móc |
Khối lượng trả lời "làm bao nhiêu". Chất lượng trả lời "làm có ổn không". Nguồn lực trả lời "tốn bao nhiêu cho kết quả đó". Thiếu một nhóm, báo cáo nghiêng về một phía. Khoa chỉ có khối lượng thì thúc người ta khám nhanh. Khoa chỉ có chi phí thì thúc người ta bớt chỉ định, kể cả khi cần.
Điều chỉnh theo độ phức tạp ca bệnh trước khi so sánh
Đây là bước quyết định công bằng. Hai bác sĩ cùng khoa vẫn có thể gánh những tập người bệnh rất khác nhau: một người nhận nhiều ca chuyển từ khoa khác, người kia nhận ca khám sức khỏe định kỳ.
Một buổi khám cho người bệnh cao tuổi nhiều bệnh nền thường tốn gấp đôi thời gian so với ca bệnh nhẹ.
Ba cách điều chỉnh thường dùng, từ đơn giản đến phức tạp:
- Chia nhóm chuyên khoa và loại hình: chỉ so bác sĩ nội trú với nội trú, khám ngoại trú với ngoại trú, cùng chuyên khoa. Cách này làm được ngay, không cần thuật toán.
- Phân tầng theo mức độ nặng: gắn mỗi lượt vào nhóm nhẹ, trung bình, nặng dựa trên chẩn đoán chính, số bệnh kèm theo, tuổi. So bác sĩ trong từng tầng, không gộp chung.
- So với giá trị kỳ vọng: tính thời gian nằm viện hoặc chi phí kỳ vọng cho từng nhóm chẩn đoán từ dữ liệu của chính bệnh viện, rồi xem mỗi bác sĩ lệch bao nhiêu. Cách này cần ít nhất vài trăm lượt mỗi nhóm để số không nhảy lung tung.
Với bệnh viện mới làm báo cáo lần đầu, cách một là đủ. Đừng đợi hoàn hảo mới bắt đầu.
Sai lầm thường gặp: Dùng số trung bình toàn viện làm chuẩn cho mọi bác sĩ. Một khoa nhận nhiều ca nặng luôn "thua" trung bình, trưởng khoa mất niềm tin vào báo cáo ngay từ kỳ đầu tiên.
Chỉ số chất lượng nên chọn: ít, rõ, kiểm chứng được
Chỉ số chất lượng dễ bị tranh cãi nhất vì ai cũng có lý do giải thích. Chọn những chỉ số có định nghĩa chặt và truy được về dữ liệu.
- Tỷ lệ tái khám bất thường trong 7 ngày: người bệnh quay lại cùng vấn đề sau lần khám trước. Cần loại trừ lịch hẹn tái khám theo chỉ định, nếu không con số vô nghĩa.
- Tỷ lệ hồ sơ bệnh án đạt: hồ sơ có đủ phần hành chính, bệnh sử, chỉ định, kết luận, ký xác nhận. Đây là chỉ số bác sĩ kiểm soát được hoàn toàn.
- Tỷ lệ chỉ định bị xuất toán hoặc giám định yêu cầu giải trình: cho thấy bác sĩ nào hay gặp lỗi chỉ định không khớp chẩn đoán. Kết quả nên dùng để đào tạo, không để phạt trước.
- Thời gian từ chỉ định đến có kết quả cận lâm sàng: thuộc về khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh nhiều hơn bác sĩ. Đưa vào báo cáo khoa phòng, đừng gán cho cá nhân.
Một báo cáo 5 đến 8 chỉ số, mỗi chỉ số có công thức in ngay dưới tên, dễ chấp nhận hơn bản 30 chỉ số mà không ai nhớ định nghĩa.
Hiệu suất khoa phòng: nhìn dòng chảy chứ không chỉ đếm đầu người
Báo cáo cho khoa phòng cần góc nhìn khác với báo cáo cá nhân. Một khoa chậm thường do điểm nghẽn ở khâu chung, không phải do từng bác sĩ.
Những chỉ số khoa phòng nên có:
- Thời gian chờ trung bình từ tiếp đón đến vào khám, theo từng phòng khám và khung giờ. Cách đo chi tiết nằm trong bài về đo lường thời gian chờ của người bệnh.
- Công suất sử dụng giường và thời gian nằm viện trung bình, đọc cùng nhau như hướng dẫn trong bài công suất sử dụng giường bệnh.
- Tỷ lệ phòng khám hoạt động đúng khung giờ, nghĩa là bác sĩ có mặt và mở phiên khám đúng lịch.
- Cơ cấu doanh thu theo nguồn thanh toán của khoa, để trưởng khoa hiểu mình đang vận hành gần với kế hoạch tài chính đến đâu. Phần doanh thu chi tiết xem thêm ở bài báo cáo doanh thu viện phí cho ban giám đốc.
Khi một khoa nội trú có công suất giường 95% nhưng thời gian nằm viện kéo dài, nguyên nhân hay nằm ở chờ kết quả cận lâm sàng hoặc thủ tục ra viện, không nằm ở tốc độ làm việc của bác sĩ điều trị. Báo cáo khoa phòng giúp tách hai chuyện này ra.
Báo cáo hiệu suất lấy thẳng từ dữ liệu vận hành, trưởng khoa và phòng kế hoạch tổng hợp xem cùng một bộ số.
Dữ liệu từ đâu ra: vì sao báo cáo thủ công khó công bằng
Nhiều bệnh viện vẫn làm báo cáo hiệu suất bằng cách mỗi khoa tự đếm, gửi file Excel lên phòng kế hoạch tổng hợp. Cách này có ba vấn đề:
- Cùng một chỉ số, mỗi khoa hiểu một kiểu. Khoa này tính lượt khám theo phiếu thu, khoa kia tính theo phiếu khám.
- Dữ liệu qua nhiều tay, mỗi lần chép có thể sai. Khi bác sĩ phản ứng, rất khó tra lại gốc.
- Báo cáo ra chậm. Số tháng trước đến tay trưởng khoa giữa tháng sau, lúc đó không còn gì để can thiệp.
Báo cáo công bằng cần nguồn duy nhất. Mỗi lượt khám, mỗi y lệnh, mỗi chỉ định cận lâm sàng đã được ghi cùng người thực hiện và thời điểm ngay lúc phát sinh. Khi bệnh viện có bệnh án điện tử và liên thông tiếp đón, cận lâm sàng, thu ngân viện phí trên cùng một hệ thống, chỉ số tự tính từ dữ liệu gốc, ai cũng tra lại được.
Điều này cũng giúp một việc ít người nghĩ tới: khi bác sĩ thắc mắc số của mình, phòng kế hoạch tổng hợp mở lại danh sách từng lượt khám tạo nên con số đó. Tranh luận dừng lại ở dữ kiện, không còn ở lời qua tiếng lại.
Thiết kế quy trình công khai để báo cáo được chấp nhận
Công bằng về số học chưa đủ. Cách công bố quyết định báo cáo được dùng hay bị né.
- Công khai định nghĩa trước, số liệu sau. Họp khoa thống nhất công thức từng chỉ số, ghi biên bản. Chưa ai thấy số của mình đã đồng ý cách tính.
- Cho xem riêng trước. Mỗi bác sĩ nhận số liệu cá nhân và có 5 đến 7 ngày đối chiếu, phản hồi sai lệch.
- Trình bày nhóm trước, cá nhân sau. Họp khoa nhìn xu hướng chung, các điểm nghẽn. Số của từng người trao đổi riêng với trưởng khoa.
- Tách báo cáo cải tiến khỏi báo cáo thưởng phạt. Nếu kỳ đầu đã gắn thu nhập, bác sĩ sẽ tối ưu cho con số chứ không cho người bệnh.
- Có đường khiếu nại. Ai thấy số sai được nộp bằng chứng và nhận phản hồi trong thời hạn cố định.
Họp khoa nên bắt đầu từ xu hướng chung của khoa, số liệu từng người được trao đổi riêng trước đó.
Những bẫy làm báo cáo phản tác dụng
Chỉ số một khi gắn với đánh giá sẽ bị người ta tìm cách đạt. Có thể lường trước vài kiểu.
| Bẫy | Biểu hiện | Cách phòng |
|---|---|---|
| Chạy theo số lượt | Khám nhanh, rút ngắn tư vấn, tách một ca thành nhiều lượt | Đọc cùng tỷ lệ tái khám bất thường và thời lượng khám |
| Từ chối ca khó | Chuyển người bệnh nặng sang đồng nghiệp | Điều chỉnh theo mức độ nặng, theo dõi tỷ lệ chuyển ca |
| Giảm chỉ định quá tay | Bỏ xét nghiệm cần thiết để chi phí bình quân thấp | Đối chiếu với tỷ lệ tái khám, biến cố sau ra viện |
| Chỉnh dữ liệu | Ghi lùi giờ, hồ sơ làm bù | Nhật ký thao tác có dấu thời gian, kiểm tra ngẫu nhiên |
| Đo quá nhiều | Bác sĩ dành thời gian giải trình thay vì khám | Giữ 5 đến 8 chỉ số, rà soát lại mỗi năm |
Quy tắc đơn giản: mỗi chỉ số khối lượng phải có một chỉ số chất lượng đối trọng. Cặp "số lượt khám" với "tái khám bất thường", cặp "chi phí bình quân" với "biến cố sau ra viện".
Bắt đầu báo cáo hiệu suất trong một quý
Không cần dự án lớn. Một lộ trình thực tế cho bệnh viện hoặc phòng khám quy mô vừa:
- Tháng đầu: họp ban giám đốc và trưởng khoa chọn 5 đến 8 chỉ số, viết định nghĩa, chốt nguồn dữ liệu cho từng chỉ số.
- Tháng hai: chạy thử, chưa công bố. Phòng kế hoạch tổng hợp đối chiếu số hệ thống với đếm tay ở hai khoa để phát hiện lệch định nghĩa.
- Tháng ba: cho từng bác sĩ xem số của mình, thu phản hồi, chỉnh công thức, rồi mới họp khoa lần đầu.
Tuần này có thể làm ngay một việc: lấy 20 lượt khám của một bác sĩ trong tháng, dò xem chỉ số nào mà bác sĩ đó cho là không phản ánh đúng công việc của họ. Câu trả lời thường chỉ ra đúng chỗ cần điều chỉnh công thức.
MyHospital ghi nhận lượt tiếp đón, y lệnh, chỉ định cận lâm sàng và thu ngân viện phí trên cùng nền tảng phần mềm quản lý bệnh viện, để báo cáo hiệu suất bác sĩ và khoa phòng tự tổng hợp từ dữ liệu gốc, trưởng khoa tra lại được từng lượt khám tạo nên con số. Báo cáo gửi lên Bộ Y tế cũng lấy từ nguồn này, xem thêm ở bài tự động hóa báo cáo Bộ Y tế.