Ca trực đêm ở một khoa nội trú, người bệnh đột ngột tụt huyết áp sau truyền dịch. Điều dưỡng mở tủ trực lấy adrenaline thì phát hiện chỉ còn một nửa số ống so với danh mục cơ số đã duyệt, phần còn lại đã được dùng cho một ca khác từ ba ngày trước nhưng chưa ai lĩnh bù. Tình huống được xử lý kịp vì số ống còn lại vẫn đủ, nhưng đó là may mắn, không phải kết quả của một quy trình kiểm soát chặt. Quản lý thuốc tủ trực phân bổ về từng khoa lâm sàng là phần dễ lệch sổ nhất trong toàn bộ hệ thống dược bệnh viện, vì nó nằm ngoài kho, do điều dưỡng khoa trực tiếp quản lý và chỉ được rà soát định kỳ chứ không theo dõi liên tục như thuốc trong kho chính.
Vì sao quản lý thuốc tủ trực dễ lệch số hơn quản lý thuốc trong kho dược
Thuốc trong kho dược đi qua đầy đủ các bước nhập, xuất, có phiếu lĩnh, có người ký nhận cho từng lần chuyển động. Tủ trực thuốc ở khoa lâm sàng vận hành theo logic khác: thuốc được cấp một lần theo cơ số đã duyệt, sau đó nằm tại khoa và chỉ động đến khi có tình huống cấp cứu thật sự. Giữa hai lần rút thuốc có thể cách nhau vài tuần, thậm chí vài tháng nếu khoa ít gặp ca cấp cứu.
Chính khoảng thời gian im lìm đó tạo ra rủi ro. Một điều dưỡng dùng thuốc trong đêm trực, xử lý xong ca cấp cứu, ghi vội vào sổ trực rồi quên chuyển phiếu lĩnh bù sang khoa dược trước khi hết ca. Ca tiếp theo không kiểm tra kỹ vì tin tưởng đồng nghiệp đã làm đúng quy trình. Cứ như vậy, độ lệch giữa số lượng thực tế và số lượng trên danh mục cơ số tích lũy dần mà không ai để ý, cho đến khi có một ca cấp cứu khác cần đúng loại thuốc đã thiếu.
Một điểm khác biệt nữa là tủ trực nằm rải rác ở nhiều khoa, mỗi khoa một cơ số riêng theo đặc thù chuyên môn. Khoa dược khó kiểm tất cả các tủ trực cùng lúc như kiểm kho chính, nên trách nhiệm giám sát hàng ngày rơi vào điều dưỡng trưởng khoa, người vốn còn phải lo nhiều việc chuyên môn khác.
Cơ số thuốc tủ trực là gì và vì sao mỗi khoa cần một danh mục riêng
Cơ số thuốc tủ trực là danh mục và số lượng thuốc cấp cứu được khoa dược duyệt giữ cố định tại một khoa lâm sàng, dùng ngay khi có tình huống khẩn cấp mà không cần chờ lĩnh thuốc theo quy trình thông thường. Danh mục này khác với thuốc lĩnh theo y lệnh ở chỗ không gắn với người bệnh cụ thể tại thời điểm cấp, chỉ gắn với người bệnh khi thực tế phát sinh sử dụng.
Mỗi khoa cần một cơ số riêng vì mô hình cấp cứu không giống nhau. Khoa cấp cứu và hồi sức tích cực dùng thuốc chống sốc, thuốc vận mạch, thuốc chống loạn nhịp với tần suất cao, nên cơ số phải đủ lớn để không bị đứt hàng giữa hai lần bổ sung. Một khoa nội trú thông thường ít gặp tình huống nguy kịch hơn, cơ số có thể rút gọn xuống nhóm thuốc xử lý sốc phản vệ, hạ đường huyết hoặc co giật, những tình huống có thể xảy ra bất cứ lúc nào dù hiếm.
Áp cùng một cơ số cho mọi khoa gây ra hai hậu quả trái ngược nhau. Khoa nguy cơ cao thiếu thuốc đúng lúc cần, còn khoa ít dùng lại tồn đọng thuốc lâu ngày, tăng khả năng phải hủy do hết hạn trước khi kịp dùng. Danh mục cơ số vì vậy cần được khoa dược phối hợp với trưởng khoa lâm sàng xây dựng riêng cho từng khoa, dựa trên tần suất cấp cứu thực tế đã ghi nhận, không sao chép nguyên một mẫu chung.
Dược sĩ và điều dưỡng trưởng khoa cùng rà lại danh mục cơ số trước khi cấp bổ sung
Quy trình phân bổ cơ số thuốc cấp cứu về khoa lâm sàng
Việc phân bổ cơ số thuốc tủ trực không nên là một quyết định một chiều từ khoa dược, cũng không nên để khoa lâm sàng tự đề xuất số lượng theo cảm tính. Một quy trình phân bổ chặt thường đi qua các bước sau:
- Trưởng khoa lâm sàng đề xuất danh mục thuốc cấp cứu cần thiết dựa trên mô hình bệnh và tần suất cấp cứu của khoa trong một giai đoạn tham chiếu, thường là sáu tháng đến một năm gần nhất.
- Khoa dược rà soát đề xuất, đối chiếu với danh mục thuốc cấp cứu chuẩn của bệnh viện, điều chỉnh số lượng theo hạn dùng và khả năng cung ứng thực tế.
- Hội đồng thuốc và điều trị hoặc lãnh đạo chuyên môn phê duyệt danh mục cơ số chính thức cho từng khoa, ghi rõ tên thuốc, hàm lượng, số lượng và vị trí lưu trữ trong tủ trực.
- Khoa dược cấp phát đủ số lượng theo danh mục đã duyệt, có phiếu xuất ghi rõ mục đích là bổ sung cơ số tủ trực, không lẫn với phiếu lĩnh thuốc điều trị thông thường.
- Điều dưỡng trưởng khoa tiếp nhận, kiểm đếm đối chiếu với phiếu xuất, sắp xếp vào tủ trực theo đúng vị trí quy định và ký xác nhận đã nhận đủ.
Danh mục cơ số sau khi duyệt không phải là con số cố định vĩnh viễn. Khi khoa có ca lâm sàng mới phát sinh thường xuyên đòi hỏi một loại thuốc chưa nằm trong danh mục, hoặc một loại thuốc trong danh mục nhiều năm không dùng đến, đây là tín hiệu cần đưa ra hội đồng thuốc và điều trị để điều chỉnh lại, thay vì để điều dưỡng khoa tự ý thêm bớt.
Sai lầm thường gặp: Một số khoa để cơ số thuốc tủ trực tồn tại nhiều năm theo đúng danh mục ban đầu, trong khi mô hình người bệnh của khoa đã thay đổi. Kết quả là tủ trực có sẵn những thuốc gần như không bao giờ dùng đến, trong khi thiếu đúng loại thuốc khoa thực sự cần cho các ca cấp cứu mới phát sinh.
Đối chiếu tủ trực mỗi ca trực: quy trình kiểm đếm và ký nhận bàn giao
Đối chiếu tủ trực không nên chỉ diễn ra khi có sự cố hoặc theo đợt kiểm tra định kỳ của khoa dược. Cách kiểm soát chặt nhất là đưa việc đối chiếu vào chính quy trình bàn giao ca trực hàng ngày, nơi hai điều dưỡng giao và nhận ca cùng có mặt.
Việc đối chiếu tối thiểu cần kiểm ba điểm. Thứ nhất là số lượng từng khoản thuốc so với danh mục cơ số đã duyệt, đếm trực tiếp chứ không nhìn sổ rồi ký theo. Thứ hai là hạn dùng của các lô đang nằm trong tủ, phát hiện sớm những lô sắp hết hạn để lên kế hoạch luân chuyển. Thứ ba là tình trạng khóa hoặc niêm phong của tủ, nếu khoa áp dụng hình thức niêm phong bằng dây khóa số sau mỗi lần đối chiếu đủ.
Nhiều khoa lâm sàng dùng cách niêm phong này vì nó giúp phân biệt rõ giữa lần mở tủ có ghi nhận và trường hợp bất thường. Sau khi đối chiếu đủ cơ số, tủ được khóa lại bằng một seal có mã số riêng, ghi vào sổ theo dõi. Lần kiểm tiếp theo chỉ cần nhìn mã seal còn nguyên là biết tủ chưa bị mở ngoài dự kiến, không cần đếm lại từng khoản nếu không có dấu hiệu bất thường. Khi cần dùng cấp cứu, điều dưỡng cắt seal, lấy thuốc, ghi phiếu sử dụng ngay tại thời điểm đó, rồi khoa đối chiếu và niêm phong lại chứ không đợi tới đúng lịch định kỳ mới xử lý.
Cả hai điều dưỡng giao và nhận ca cùng ký xác nhận vào biên bản đối chiếu, ghi rõ ngày giờ, số lượng thực đếm và tình trạng seal. Đây là bước hay bị bỏ qua nhất khi khoa đông việc, và cũng chính là kẽ hở khiến sai lệch không được phát hiện kịp thời cho đến khi có một ca cấp cứu thật sự cần đến thuốc đó.
Hai điều dưỡng cùng kiểm đếm và ký biên bản bàn giao tủ trực trước khi kết ca
Luân chuyển thuốc cận hạn trong tủ trực để tránh vừa thiếu vừa hủy bỏ
Thuốc tủ trực có đặc điểm nằm yên phần lớn thời gian, nên nguy cơ hết hạn trước khi dùng đến cao hơn thuốc lưu thông thường xuyên trong kho. Nếu chờ đến sát ngày hết hạn mới xử lý, khoa dễ rơi vào tình huống phải hủy một lô thuốc cấp cứu đắt tiền, đồng thời tủ trực bị trống đúng khoản mục đó trong lúc chờ cấp lô mới.
Cách xử lý phổ biến là áp dụng nguyên tắc hết hạn trước xuất trước ngay trong phạm vi tủ trực: khi phát hiện một lô sắp hết hạn, thường là trước vài tuần, khoa dược cấp một lô mới có hạn dùng xa hơn để thế đúng vị trí đó trong tủ, còn lô cũ được rút ra chuyển sang sử dụng cho điều trị thông thường tại khoa nếu thuốc vẫn còn phù hợp chỉ định và đủ thời hạn sử dụng an toàn. Nhờ vậy tủ trực không có khoảng trống nào trong danh mục đã duyệt, đồng thời thuốc cận hạn vẫn được dùng hết thay vì bỏ phí.
Việc theo dõi hạn dùng theo từng lô trong hàng chục tủ trực rải khắp các khoa là công việc dễ bỏ sót nếu chỉ dựa vào việc điều dưỡng tự nhớ hoặc ghi sổ tay. Đây cũng là lý do nhiều bệnh viện chuyển sang quản lý thuốc tủ trực theo lô trên phần mềm dược thay vì sổ giấy rời ở từng khoa.
Kiểm soát tủ trực bằng phần mềm: dữ liệu tập trung theo từng khoa
Khi mỗi khoa ghi sổ tủ trực riêng trên giấy, khoa dược và ban giám đốc chỉ nắm được tình trạng thực tế khi có đợt kiểm tra trực tiếp, thường vài tháng một lần. Giữa hai đợt kiểm tra đó, một khoa có thể đã lệch cơ số từ lâu mà không ai biết cho đến khi xảy ra sự cố.
Phân hệ quản lý dược và tài sản trong phần mềm bệnh viện MyHospital ghi nhận từng lần cấp cơ số, từng lần rút thuốc cấp cứu và từng lần đối chiếu ca trực theo đúng khoa, đúng người thao tác. Khoa dược nhìn được cùng lúc tình trạng cơ số của tất cả các khoa trên một màn hình, thay vì phải đi từng khoa xin xem sổ. Khi một khoản thuốc trong tủ trực gần hết hạn, hệ thống tự đưa ra cảnh báo trước theo mốc thời gian đã cấu hình, giúp khoa dược chủ động chuẩn bị lô thay thế thay vì để điều dưỡng khoa tự phát hiện lúc kiểm tra định kỳ.
Đối chiếu tủ trực nhanh hơn khi số liệu cơ số được cập nhật ngay trên hệ thống, không cần dò sổ giấy
Với những khoa đã dùng bệnh án điện tử liên thông, phiếu sử dụng thuốc cấp cứu từ tủ trực có thể ghi nhận trực tiếp vào bệnh án điện tử của người bệnh ngay khi điều dưỡng lập phiếu, tránh tình trạng ghi tay vào sổ trực rồi quên chuyển phiếu lĩnh bù sang khoa dược. Cách vận hành này gắn liền với hướng tiếp cận của phần mềm quản lý tài sản bệnh viện, nơi tủ trực thuốc được xem như một điểm lưu trữ tài sản cần theo dõi vòng đời như bất kỳ danh mục tài sản luân chuyển nào khác trong bệnh viện.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với quy trình cấp phát ở tuyến điều trị nội trú đã áp dụng cho cấp phát thuốc nội trú, và bổ trợ cho việc tính định mức tồn kho an toàn thuốc ở kho dược trung tâm: một bên kiểm soát lượng thuốc dự trữ tại kho lớn, một bên kiểm soát lượng thuốc dự trữ ngay tại khoa để dùng tức thời.
Bắt đầu siết cơ số tủ trực từ khoa có nguy cơ cao nhất
Không cần làm đồng loạt tất cả các khoa cùng lúc nếu bệnh viện chưa có quy trình đối chiếu ca trực rõ ràng. Cách làm thực tế hơn là chọn trước một hoặc hai khoa có tần suất cấp cứu cao nhất, thường là khoa cấp cứu và khoa hồi sức tích cực, để áp dụng đầy đủ quy trình phân bổ, đối chiếu mỗi ca và niêm phong sau kiểm đếm. Khi quy trình chạy ổn định và điều dưỡng khoa đã quen tay, việc nhân rộng sang các khoa còn lại sẽ nhanh hơn nhiều so với việc áp dụng đồng loạt ngay từ đầu rồi phải sửa lỗi ở khắp nơi cùng lúc.
Điều quan trọng nhất trong quản lý thuốc tủ trực không nằm ở việc chọn công cụ theo dõi nào, mà ở việc đảm bảo mỗi lần mở tủ trực đều để lại một dấu vết có thể truy lại: ai mở, khi nào, dùng cho ca nào, bù lại lúc nào. Khi dấu vết đó đầy đủ, sai lệch cơ số sẽ được phát hiện trong vài ngày thay vì vài tháng.